Ung thư đại tràng là loại ung thư thường gặp đứng hàng thứ hai trong các loại ung thư đường tiêu hoá và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư nói chung. Tiên lượng ung thư đại tràng khá tốt nếu được chẩn đoán và phẫu thuật ở giai đoạn sớm.

Tuy nhiên đa số bệnh nhân phát hiện bệnh thường ở giai đoạn trễ. Vậy ung thư đại tràng giai đoạn cuối sẽ như thế nào và bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối sống được bao lâu?

Ung thư đại tràng là gì

Ung thư đại tràng hay còn gọi là ung thư ruột già (đại tràng) là một loại bệnh mà tế bào ung thư phát triển trong lòng đại tràng, Hầu hết các trường hợp ung thư đại tràng bắt đầu là các khối u nhỏ, không phải ung thư (lành tính) của các tế bào được gọi là polyp adenomatous.

Theo thời gian, một số polyp này có thể trở thành ung thư đại tràng. Bệnh đứng hàng thứ hai trong các loại ung thư đường tiêu hoá và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư nói chung. Xuất độ bệnh là ngang nhau ở cả 2 giới.

Các giai đoạn của ung thư đại tràng

Về tiến triển, ung thư đại trực tràng sẽ trải qua 5 giai đoạn:  

  • Giai đoạn 0: Ung thư ở giai đoạn rất sớm này, chỉ mới xuất hiện ở lớp niêm mạc trên cùng của đại tràng hoặc trực tràng.
  • Giai đoạn I: Ung thư lan rộng ra thành trong của trực tràng tràng hoặc đại tràng.
  • Giai đoạn II: Ung thư đã lan ra bên ngoài trực tràng hoặc đại tràng tới các mô lân cận, nhưng chưa tới hạch.
  • Giai đoạn III: Ung thư lan sang các hạch lân cận, nhưng chưa tới các bộ phận khác của cơ thể. Trong đó, ung thư trực tràng giai đoạn 3 lại được chia thành các nhóm nhỏ.
  • Giai đoạn IV: Ung thư đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể. Ung thư đại-trực tràng có xu hướng lan tới gan hoặc phổi, não, xương…

Giai đoạn IV là giai đoạn tiến triển nhất của ung thư đại trực tràng. Nếu bạn đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại tràng giai đoạn IV, điều đó có nghĩa là ung thư đã di căn đến các địa điểm xa xôi, chẳng hạn như gan hoặc phổi. 

Khối bướu có thể hoặc có thể không phát triển qua thành đại tràng hoặc trực tràng, và các hạch bạch huyết có thể hoặc có thể không bị ảnh hưởng.

Giai đoạn IV ung thư đại trực tràng được chia thành hai loại, tùy thuộc vào việc di căn có ảnh hưởng nhiều hơn một cơ quan hay không. Khối u ban đầu có thể có kích thước bất kỳ và các hạch bạch huyết có thể hoặc không thể tham gia.

  • Giai đoạn IV A: ung thư lan sang một cơ quan
  • Giai đoạn IV B: ung thư lan sang nhiều hơn một cơ quan

Các triệu chứng của ung thư đại tràng ở giai đoạn cuối

Ở giai đoạn này ung thư đã lan tràn tới các cơ quan ở xa. Do đó triệu chứng giai đoạn này thường mang triệu chứng cơ quan bị ảnh hưởng.

  • Đau
  • Vàng da, đau bụng hoặc sưng chân kèm theo bị sốt, ăn mất ngon: có thể xảy ra trong trường hợp ung thư đã di căn gan.
  • Đau xương khớp: do các tế bào ung thư đã lan tràn tới xương ở giai đoạn cuối. Một vài trường hợp có thể bị gãy xương.
  • Đau đầu: ở mức độ dữ dội đi kèm cảm giác choáng váng, mờ mắt, rối loạn mất phương hướng trong trường hợp ung thư đã di căn não.
  • Khó thở

Khó thở là một dấu hiệu cho thấy ung thư đại tràng giai đoạn cuối đã lan tới phổi. Các dấu hiệu khác có thể gặp phải của ung thư đại tràng giai đoạn di căn vào phổi là đau nơi ngực, ho  có lẫn đờm hoặc máu.

  • Tiểu ra máu, bí tiểu

Do ung thư xâm lấn bàng quang

  • Các triệu chứng khác

Đi tiêu ra máu, táo bón, mệt mỏi, thiếu máu, tiêu chảy. 

Theo nghiên cứu, khoảng 50 – 70% bệnh nhân ung thư đại tràng, bao gồm cả người khỏe mạnh, có những triệu chứng phổ biến như đi tiêu ra máu và thay đổi thói quen đại tiện. Tuy nhiên, nếu những triệu chứng này kéo dài ở đối tượng trên 50 tuổi, cần đến bệnh viện để kiểm tra cũng như điều trị kịp thời.

Ung thư đại tràng giai đoạn cuối kéo dài sự sống bao lâu?

Tuổi thọ của người bệnh ung thư đại tràng tùy thuộc vào từng ca bệnh cụ thể cũng như việc thích ứng với các phương pháp điều trị ung thư đại tràng. Tuy nhiên theo khảo sát thì tỉ lệ sống sau 5 năm của những người mắc bệnh ung thư này sẽ thay đổi như sau:

  • Tỷ lệ sống tương đối 5 năm đối với những người bị ung thư đại tràng giai đoạn I là khoảng 92%. 
  • Đối với những người bị ung thư đại tràng giai đoạn IIA, tỷ lệ sống tương đối 5 năm là khoảng 87%. Đối với ung thư giai đoạn IIB, tỷ lệ sống là khoảng 65%.
  • Tỷ lệ sống tương đối 5 năm đối với ung thư đại tràng giai đoạn IIIA là khoảng 90%. Đối với ung thư giai đoạn IIIB tỷ lệ sống là khoảng 72%, và đối với ung thư giai đoạn IIIC tỷ lệ sống là khoảng 53%.
  • Các bệnh ung thư đại tràng lan sang các bộ phận khác của cơ thể thường khó điều trị hơn và có xu hướng kém hơn. Di căn hoặc giai đoạn IV ung thư đại tràng, có tỷ lệ sống sót tương đối 5 năm khoảng 12%. Tuy nhiên, thường có nhiều lựa chọn điều trị dành cho những người bị ung thư giai đoạn này.

Điều trị ung thư đại tràng giai đoạn cuối

Bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn IV có thể được phân chia thành hai nhóm:

  • Nhóm I: bệnh nhân di căn lan rộng mà không thể điều trị bằng phẫu thuật
  • Nhóm II: những bệnh nhân chỉ di căn tới một cơ quan duy nhất

Nếu chỉ có một cơ quan bị di căn, và ung thư giới hạn trong một khu vực nhất định, điều trị tại chỗ sẽ mang lại hiệu quả tốt. Trong trường hợp này, phẫu thuật có thể được sử dụng nếu ung thư đã lan đến gan hoặc phổi dạng nốt đơn độc.

Nếu thuận lợi phẫu thuật bệnh nhân có thể sẽ được phẫu thuật cắt đại tràng kèm cắt nốt đơn độc ở phổi hoặc gan hoặc bác sĩ có thể chỉ định hóa trị trước phẫu thuật để thu nhỏ khối u, thuận lợi cho việc phẫu thuật.

Tuy nhiên, di căn đến các cơ quan khác là điều thường gặp ở hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh này và gần như không có khả năng chữa trị ung thư đại tràng giai đoạn cuối. 

Do đó mục tiêu điều trị bệnh này chủ yếu là kiểm soát bệnh, tìm cách giảm bớt các triệu chứng, kéo dài cũng như tăng chất lượng sống cho bệnh nhân. Phương pháp điều trị chính trong trường hợp này là hóa trị, chăm sóc giảm nhẹ, phẫu thuật tạm bợ (làm hậu môn nhân tạo, nối tắc…)

Kết luận

Ung thư đại tràng là một bệnh ung thư nguy hiểm bởi có tỷ lệ tử vong khá cao, đặc biệt là nhóm ung thư đại tràng giai đoạn cuối. Tiên lượng sống giai đoạn này chỉ khoảng dưới 10%. Do đó việc nhận biết các triệu chứng báo động và có kiến thức về bệnh sẽ giúp phát hiện sớm và hạn chế tử vong do bệnh gây ra.