Viêm màng ngoài tim là bệnh lý thường gặp nhất trong nhóm các bệnh tim mạch. Việc phát hiện sớm viêm màng ngoài tim và xử lí kịp thời giúp hạn chế đáng kể các biến chứng. Hãy cũng ICondom tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau đây.

Khái quát về bệnh lý viêm màng ngoài tim

Viêm màng ngoài tim hay gặp ở nam nhiều hơn ở nữ. Tần suất mắc viêm màng ngoài tim tại các bệnh viện khó xác định chính xác vì có nhiều trường hợp chẩn đoán bị bỏ sót.

Theo một số nghiên cứu gần đây cho thấy tần suất viêm màng ngoài tim chiếm khoảng 0.1% trên tổng số bệnh nhân nhập viện và chiếm 5% số bệnh nhân vào cấp cứu vì đau ngực không do nhồi máu cơ tim cấp.

Viêm màng ngoài tim thường xảy ra ở người trưởng thành trong độ tuổi 20-50 tuổi, thuộc nhóm lực lượng lao động chính trong xã hội. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời viêm màng ngoài tim sẽ làm giảm đáng kể tỉ lệ biến chứng hoặc nguy cơ tử vong không đáng có.

Màng ngoài tim là gì?

Màng ngoài tim là màng bao bọc quanh tim, có cấu trúc là một túi kín gồm 2 bao: bao sợi bên ngoài được gắn với các tổ chức xung quanh nhờ các dây chằng và bao thanh mạc bên trong. Bình thường khoang màng ngoài tim có khoảng 20-30 ml dịch giúp màng ngoài tim trượt lên nhau mà không tạo ra tiếng cọ xát.

Chức năng chính của màng ngoài tim:

  • Bảo vệ, che phủ cho tim, tạo áp lực âm tính giúp máu đổ đầy các buồng tim trong trong giai đoạn tim giãn căng ra, tránh cho tim giãn đột ngột trong trường hợp bệnh lý.
  • Tạo ranh giới giữa tim với phổi và các cơ quan khác gần kề, chống lại các tổn thương nhiễm trùng, các bệnh lý ác tính.
  • Màng ngoài tim còn là vùng phản xạ quan trọng có liên quan đến các phản xạ về tim mạch và hô hấp.

Viêm màng ngoài tim

Khi màng ngoài tim bị viêm có thể gây nên tràn dịch màng ngoài tim và có thể dẫn đến ép tim nếu lượng dịch ở màng ngoài tim tăng nhanh. Lượng dịch thay đổi từ vài mililit đến hàng ngàn mililit, có thể dịch màu vàng chanh, dịch huyết thanh-máu hay dịch mủ. Mặt khác viêm làm màng ngoài tim bị khô, không nhẵn mà bị sần sùi giống như lưỡi mèo.

Màng ngoài tim bị viêm dẫn đến dày, xơ hóa, dính chặt vào cơ tim, có thể lắng đọng chất vôi ở màng ngoài tim, làm hạn chế sự giãn ra của các buồng tim, gây ảnh hưởng đến chức năng của tim. Khi các buồng tim bị ép lại, đặc biệt là thất phải, gây ứ máu tĩnh mạch do máu về thất phải bị cản trở. Vì vậy về mặt huyết động sẽ có 2 rối loạn cơ bản: tăng áp lực tĩnh mạch ngoại vi và giảm cung lượng tim.

Nguyên nhân gây viêm màng ngoài tim.

Có thể xếp vào 3 nhóm chính:

Viêm màng ngoài tim do nhiễm trùng – virus: mủ màng ngoài tim do phế cầu, tụ cầu, liên cầu…, bệnh lao, nấm, giang mai, ký sinh trùng…

Viêm màng ngoài tim không phải do nhiễm trùng: nhồi máu cơ tim cấp tính, tăng urê máu. Các khối u có thể xuất hiện ở màng ngoài tim hoặc ung thư di căn từ nơi khác đến màng ngoài tim, suy chức năng tuyến giáp, tăng cholesterol máu, chấn thương tim, viêm màng ngoài tim có yếu tố gia đình, viêm màng ngoài tim cấp tính tự phát.

Viêm màng ngoài tim liên quan đến tăng nhạy cảm và miễn dịch: thấp tim, bệnh collagen, do sử dụng thuốc, hội chứng sau nhồi máu cơ tim, sau phẫu thuật màng ngoài tim…

Triệu chứng viêm màng ngoài tim

Triệu chứng viêm màng ngoài tim thường không đặc trưng mà phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh.

  • Đau tức ngực là triệu chứng thường gặp, nhưng không phải lúc nào cũng có. Đau thường là vùng trước tim hoặc sau xương ức, có thể lan ra sau lưng hoặc lên cổ. Thường đau tăng lên khi bệnh nhân hít sâu, ho. Mức độ đau có thể nhiều hoặc ít, đôi khi bệnh nhân có cảm giác bị đè ép trong lồng ngực.
  • Khó thở: khó thở khi gắng sức, về sau khó thở tăng dần, thường khó thở nhanh nông; khi có chèn ép tim thì khó thở dữ dội.
  • Các triệu chứng khác ít gặp hơn: ho khan, khó nuốt, nấc, sốt, chán ăn, mệt mỏi, gầy sút cân.

Điều trị viêm màng ngoài tim.

Điều trị theo nguyên nhân: tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có biện pháp điều trị khác nhau:

  • Viêm màng ngoài tim cấp do virus: có thể dùng kháng sinh và corticoid trong vòng 2-3 tuần:
  • Viêm màng ngoài tim do lao: điều trị theo phác đồ chống lao có hệ thống, thường phối hợp các thuốc kháng lao. Liều lượng thuốc dùng theo cân nặng của bệnh nhân. Thường dùng liều tấn công trong vòng hai tháng đầu và dùng liều củng cố 6 tháng tiếp theo. Theo dõi sau điều trị trong vòng 1-2 năm. Nếu có biểu hiện viêm màng ngoài tim mạn tính co thắt thì nên có chỉ định phẫu thuật sớm.
  • Viêm màng ngoài tim do thấp tim: dùng corticoid và kháng sinh theo phác đồ điều trị thấp tim.
  • Viêm màng ngoài tim mủ: dẫn mủ ra ngoài sớm, dùng kháng sinh đặc hiệu theo kháng sinh đồ. Nên có chỉ định phẫu thuật cắt bỏ màng ngoài tim sớm để đề phòng biến chứng viêm màng ngoài tim mạn tính co thắt.

Điều trị triệu chứng:

Đau ngực: có thể dùng các thuốc giảm đau.

Điều trị chống viêm dính màng ngoài tim bằng các thuốc kháng viêm.

Chọc tháo dịch màng ngoài tim, giải phóng chèn ép cho tim.

Điều trị phẫu thuật:

Đối với viêm màng ngoài tim mạn tính co thắt, phẫu thuật bóc màng ngoài tim là biện pháp chủ yếu nhất để cải thiện tình trạng rối loạn huyết động của bệnh nhân. Tốt nhất là bóc toàn bộ màng ngoài tim đã bị viêm dày, nếu không được thì bóc một số vùng có thể bóc được. Nếu bệnh nhân đến điều trị ở giai đoạn muộn, màng ngoài tim dày, cứng, dính sát vào cơ tim thì rất khó bóc triệt để màng ngoài tim vì dễ gây rách cơ tim và có biến chứng nguy hiểm sau phẫu thuật.