Ung thư máu là một bệnh về máu ác tính. Đây là một căn bệnh nguy hiểm, đa số các bệnh nhân đến bệnh viện khi bệnh đã diễn tiến nặng dẫn đến việc điều trị khó khăn. Tuy nhiên bằng sự tiến bộ của y khoa ngày nay, đa số bệnh ung thu máu đã có thể điều trị tốt,  khỏi bệnh và có thể về với cuộc sống bình thường của mình. 

Bệnh ung thư máu là gì ?

Bệnh ung thư máu hay còn được gọi với các tên gọi khác nhau: bệnh bạch cầu, ung thư bạch cầu hay bệnh leucémie. Bệnh  gây ra do các tế bào bạch cầu trong cơ thể hóa thành tế bào ung thư. Trong máu chúng ta có 3 loại tế bào: bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu. Trong đó hồng cầu, tiểu cầu rất ít khi nào hoá thành tế bào ung thư nên khi nói ung thư máu là nói đến ung thư bạch cầu. 

Đây là một bệnh máu ác tính, bắt đầu phát triển từ tủy xương, trước khi lan tỏa vào máu ngoại vi, hạch, lách và sau cùng là các tổ chức khác.

Bệnh Leucemie được phân loại theo bản chất tế bào ác tính đầu tiên (thí dụ dòng Lympho hay dòng hạt), cũng như theo diễn tiến mau chậm của bệnh (bệnh cấp và mãn), nhưng ngày nay người ta còn phân loại bệnh Leucemie dựa trên các tính chất đặc hiệu của di truyền, miễn dịch và phân tử.

Ung thư máu (bệnh bạch cầu) gồm có :

– bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML).  

– bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL).

– bệnh bạch cầu mạn dòng tủy (CML) .

– bệnh bạch cầu mạn dòng lympho (CLL).

– Leucemie tế bào tóc.

Tần suất mắc ung thư máu

– Tần suất của toàn bộ các bệnh ung thư máu khoảng 13/100.000/năm và phái nam mắc bệnh nhiều hơn phái nữ .

– Bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) là bệnh đặc biệt của trẻ em và thiếu niên, trong lúc AML, CLL và Leucemie tế bào tóc, tần số tăng theo tuổi và tối đa ở tuổi 60 – 80.

Vì sao bị ung thư máu?

Nguyên do gây bệnh ung thư máu hiện nay vẫn chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên, người  ta nhận thấy bệnh có liên quan đến cả hai yếu tố di truyền và môi trường:

  • Di truyền: các nghiên cứu cho thấy có tần số cao về trùng hợp bệnh bạch cầu cấp trên anh chị em song sinh cùng trứng, bệnh có tần số cao trên những trẻ em có bệnh di truyền như bệnh DOWN, BLOOM …
  • Môi trường: 
  • Bà mẹ lúc mang thai có chụp X quang hoặc sống trong vùng ô nhiễm phóng xạ, con sanh ra dễ bị ung thư máu.
  • Bệnh nhân đã từng hoá trị do bị ung thư khác.
  • Người sống trong môi trường có phóng xạ.
  • Virus : HTLV I, EBV …

Các trường hợp bệnh bạch cầu dù cấp hay mãn cũng đều không lây lan, tần số không tăng trên những người tiếp xúc, vợ chồng, cả trẻ em ngay cả khi mẹ bị ung thư máu lúc mang thai.

Ung thư máu nguy hiểm như thế nào?

Ung thư bạch cầu lympho cấp nếu không điều trị sẽ tử vong trong vài tháng. Tuy nhiên nhờ tiến bộ của y khoa với phương pháp hoá trị kèm theo ghép tuỷ, hoá trị kết hợp với nhắm trúng đích và cũng do bệnh này rất nhạy với hoá trị nên phần lớn trường hợp đều được chữa khỏi.

Tại sao gọi là ung thư máu nhưng lại khởi phát bệnh lại từ xương?

Tủy xương chúng ta là nơi tạo ra các tế bào máu. Bình thường, việc tạo máu diễn ra như sau: các tế bào gốc tạo máu sẽ tạo ra các tế bào máu, các tế bào mới sinh ra được đưa vào dòng máu để thay thế cho các tế bào cũ đã già và chết đi. Khi một số tế bào tạo máu trong tủy xương hóa thành ung thư, chúng sẽ gia tăng số lượng rất nhanh chóng, các tế bào bạch cầu ung thư bị tràn ngập trong tủy xương và cũng tràn ngập trong máu.

Triệu chứng của bệnh ung thư máu

Triệu chứng thường gặp của bệnh ung thư máu là sốt, vết bầm da, da xanh, mệt mỏi.

Sự gia tăng số lượng tế bào bạch cầu ung thư trong tủy xương khiến sự tạo máu từ tủy xương bị giảm vì vậy số lượng bạch cầu bình thường, tiểu cầu, hồng cầu trong máu sẽ giảm.

Bạch cầu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống lại vi trùng. Thiếu bạch cầu cơ thể rất dễ bị nhiễm trùng. Sốt là do nhiễm trùng.

Tiểu cầu giúp cầm máu. Giảm tiểu cầu khiến cơ thể khó cầm máu nên hay bị chảy máu dưới da khiến tạo thành những mảng bầm.

Hồng cầu giúp vận chuyển oxy cho cơ thể. Thiếu hồng cầu làm da xanh xao và mệt mỏi.

Chẩn đoán bệnh ung thư máu

Khi có một hoặc nhiều triệu chứng kể trên, bệnh nhân sẽ đến bệnh viện để khám. Bác sĩ sẽ lần lượt khám bệnh rồi cho các xét nghiệm sau để chẩn đoán.

Khám bệnh

Bác sĩ sẽ phát hiện các dấu hiệu sau:

–  Da xanh, niêm nhợt. Dấu hiệu này là do thiếu máu tức là số lượng hồng cầu giảm.

– Các vết bầm ở da, có khi là những chấm xuất huyết hoặc chảy máu mũi.

– Nhiễm trùng các cơ quan: viêm phổi, viêm họng…

– Gan to, lách to, hạch to do các tế bào bạch cầu ung thư xâm nhiễm vào các cơ quan này.

– U ở các xương hoặc đau nhức xương do các tế bào bạch cầu ung thư tràn ngập trong tuỷ xương.

Xét nghiệm

  • Công thức máu

Máu sẽ được lấy từ tĩnh mạch để đưa về phòng xét nghiệm. Kết quả sẽ có trong vài giờ. Số lượng hồng cầu, tiểu cầu giảm. Số lượng bạch cầu tăng do các tế bào bạch cầu ung thư từ tủy xương được phóng thích vào máu. Tuy nhiên, máy kiểm tra công thức máu không thể phân biệt bạch cầu bình thường và tế bào ung thư cho nên bác sĩ sẽ cho làm thêm xét nghiệm tuỷ đồ.

  • Tuỷ đồ

Bác sĩ sẽ dùng một kim đặc biệt có lõi to chọc vào xương chậu để lấy ra một mảnh tủy xương. Mảnh tuỷ xương này có chứa các tế bào máu, phòng xét nghiệm sẽ dùng kính hiển vi quan sát để tìm các tế bào bạch cầu ung thư.

Hình 2: sinh thiết tủy xương

Không chỉ quan sát dưới kính hiển vi, bệnh phẩm tủy xương này còn được làm nhiều xét nghiệm sinh hoá, miễn dịch, di truyền để xác định loại bạch cầu bị ung thư, các biến đổi nhiễm sắc thể có liên quan.

Dựa trên loại bạch cầu bị ung thư mà người ta phân chia hai loại ung thư máu: ung thư máu dòng tế bào tủy và ung thư máu dòng tế bào lympho. Ung thư máu dòng lympho lại bao gồm 2 loại: lympho B và lympho T.

Tủy đồ là phương pháp để xác định chắc chắn bị ung thư máu. Sau đã xác định chắc chắn bệnh nhân bị ung thư máu, bác sĩ còn phải làm thêm một số xét nghiệm để chẩn đoán mức độ lan rộng của bệnh.

  • Chọc dịch não tủy 

Để xác định tế bào bạch cầu ung thư có xâm nhiễm vào não hay tủy sống hay không người ta phải dùng phương pháp chọc dò tủy sống. Bệnh nhân phải nằm nghiêng và co mình lại sao cho khe giữa hai đốt sống giãn rộng ra. Bác sĩ sẽ dùng một kim dài xuyên qua khe gian đốt sống để rút dịch não tủy. Dịch này được gửi về phòng xét nghiệm để tìm tế bào bạch cầu bị ung thư.  

Điều trị

Ung thư máu được điều trị bằng hoá trị, hoá trị có ghép tủy, thuốc nhắm trúng đích, xạ trị.

Hoá trị

Các tế bào bạch cầu ung thư gia tăng số lượng rất nhanh bằng cách tự phân đôi thành hai tế bào, y khoa gọi là phân bào. Các thuốc hoá trị cản trở phân bào của các tế bào nên có thể tiêu diệt hoặc ngăn chặn sự phân bào của các tế bào ung thư. Trong bệnh ung thư máu người ta thường kết hợp nhiều loại thuốc hoá trị ung thư. Hoá trị chia làm 3 giai đoạn: tấn công, củng cố và duy trì.

  • Giai đoạn tấn công: thuốc được cho với liều cao, sau 4 tuần hầu hết các bệnh nhân đều đạt mức độ đáp ứng hoàn toàn tức là các tế bào bạch cầu bị ung thư bị tiêu diệt gần hết. Các thuốc được dùng trong giai đoạn này là vincristine, prednisone hoặc dexamethasone, L-asparaginase.
  • Giai đoạn củng cố và giai đoạn duy trì: Thường dùng các thuốc methotrexate, cyclophosphamide, cytarabine, mercaptopurine. Một số trường hợp có thể dùng methotrexate bơm vào tủy sống để tiêu diệt các tế bào ung thư trong não và tủy sống.

Hoá trị có ghép tủy

Ung thư máu là loại ung thư rất nhạy với hóa trị. Liều thuốc càng cao thì số lượng tế bào ung thư bị tiêu diệt càng nhiều. Tuy nhiên nếu nâng liều lên cao quá thì các tế bào máu gốc trong tủy xương sẽ bị tiêu diệt khiến suy tủy: giảm tiểu cầu, bạch cầu, hồng cầu. Để có thể hoá trị liều cao mà không bị suy tủy người ta dùng phương pháp ghép tủy. Có 2 cách ghép tủy: tự thân và dị thân.

Ghép tế bào máu gốc tự thân

Trước khi hóa trị người ta sẽ lấy máu bệnh nhân, lọc ra những tế bào gốc sau khi dùng các thuốc kích thích tủy xương tạo thêm nhiều tế bào máu gốc (tế bào máu gốc đa  số ở trong tủy xương nhưng cũng có một số ở trong dòng máu). Các tế bào máu gốc này được lưu trữ chờ để khi hóa trị xong sẽ được truyền trả lại cho bệnh nhân để chúng thực hiện việc tạo ra những tế bào máu mới.

Nhờ lấy các tế bào máu gốc ra khỏi cơ nên tế bào máu gốc này tránh được hóa trị nhờ đó  bác sĩ có thể thực hiện hóa trị liều cao hơn bình thường mà không lo sợ hóa trị sẽ làm hại đến các tế bào này.

Tuy vậy hóa trị với liều cao là một việc làm hết sức nguy hiểm vì bệnh nhân sẽ sống trong giai đoạn không có bạch cầu trong máu khoảng 1 tuần với nguy cơ nhiễm trùng rất cao; giai đoạn này bệnh nhân phải nằm trong phòng cách ly, vô trùng tuyệt đối và dùng các kháng sinh phòng ngừa.

Ghép tế bào máu gốc dị thân

Tương tự như ghép tế bào máu gốc tự thân nhưng điểm khác nhau là tế bào máu gốc được đưa vào cơ thể của bệnh nhân là từ một người khác tình nguyện cho.

Thuốc nhắm trúng đích

Các thuốc này chỉ tiêu diệt tế bào ung thư mà không gây hại đến tế bào bình thường như hoá trị.

Thuốc imatinib mesylate làm tăng hiệu quả hoá trị ở những bệnh nhân ung thư máu có nhiễm sắc thể Philadelphia.

Xạ trị

Các thuốc hoá trị khó qua được hàng rào mạch máu não nên xạ trị vào não thường được sử dụng để bù đắp cho khiếm khuyết của hoá trị.

Máy xạ trị phát ra tia phóng xạ. Tia phóng xạ phá hủy ADN của các tế bào ung thư.

Ung thư máu hay còn gọi là bệnh bạch cầu là một bệnh ác tính về máu trong đó các tế bào bạch cầu trong cơ thể hóa thành tế bào ung thư. Đây là một bệnh nguy hiểm nếu như không được phát hiện và điều trị sớm. Tuy nhiên với những tiến bộ về y học trong những năm gần đây thì ung thư máu đa phần đã có thể trị khỏi và mang lại cơ hội sống và hòa nhập cuộc sống tốt hơn cho nhiều bệnh nhân.