Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến ở nữ giới, tỷ lệ tử vong cao. Tuy nhiên Ung thư cổ tử cung là một trong số rất ít bệnh ung thư có thể phòng ngừa được và hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm.

Ung thư cổ tử cung là gì? 

  • Cổ tử cung là phần thấp nhất của tử cung. Đây là phần nối giữa âm đạo và tử cung của chị em phụ nữ. Ung thư cổ tử cung xảy ra khi các tế bào ở cổ tử cung biến đổi thành các tế bào bất thường và tăng sinh một cách mất kiểm soát và hình thành  khối bướu lớn ở cổ tử cung. Hầu hết trường hợp ung thư cổ tử cung được chẩn đoán và điều trị sớm có kết quả rất tốt.
  • Đây là loại ung thư  đứng thứ 3 của ung thư phụ khoa và là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở những phụ nữ ung thư phụ khoa ở Hoa Kỳ. 
  • Ung thư cổ tử cung có tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong thấp hơn so với ung thư thân tử cung và ung thư buồng trứng, nhờ vào chương trình tầm soát vô cùng hiệu quả. Tuy nhiên, ở những nước đang phát triển, chưa phổ biến chương trình tầm soát và phòng ngừa ung thư cổ tử cung, căn bệnh này vẫn là loại ung thư phổ biến thứ hai (17,8 trên 100.000 phụ nữ) và nguyên nhân tử vong do ung thư (9,8 / 100.000) trong số tất cả các loại ung thư ở phụ nữ.

Là một loại ung thư có nhiều điểm nổi bật

Hình 01: Hình ảnh sùi loét trong ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư biết được nguyên nhân đầu tiên nổi bật

Ung thư cổ tử cung cho đến nay là ung thư duy nhất tìm ra nguyên nhân là do siêu vi bướu nhú ở người: Human Papilloma Virus (HPV). Virus HPV gây ra 70% trường hợp ung thư cổ tử cung. Hiện nay có trên 100 chủng loại HPV khác nhau trong đó có trên 40 loại gây bệnh ở vùng hậu môn sinh dục và trên 15 loại được biết là đặc biệt nguy hiểm , có nguy cơ cao gây ung thư. Trong đó, 2 type có nguy cơ gây ung thư cổ tử cung cao nhất là type 16 và type 18 . Tuy vậy 11 chủng loại virus khác cũng có khả năng gây ra ung thư cổ tử cung.

Là loại ung thư có yếu tố nguy cơ gây bệnh nhiều NHẤT

Hầu hết các nguy cơ này có liên quan đến tăng nguy cơ tiếp xúc hoặc hạn chế đáp ứng miễn dịch với nhiễm HPV, tác nhân gây bệnh của hầu hết các bệnh ung thư cổ tử cung. Bao gồm:

  •  Bắt đầu hoạt động tình dục sớm 

So với tuổi quan hệ đầu tiên từ 21 tuổi trở lên, nguy cơ này xấp xỉ 1.5 lần ở tuổi từ 18 đến 20 và gấp đôi ở tuổi dưới 18 tuổi 

● Nhiều bạn tình 

So với một bạn tình , nguy cơ này xấp xỉ gấp đôi với hai bạn tình và gấp ba lần với sáu người hoặc nhiều hơn 

  • Một bạn tình có nguy cơ cao (ví dụ: bạn tình có nhiều bạn tình khác hoặc bị nhiễm HPV) 
  • Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (Chlamydia trachomatis, herpes sinh dục)
  • Có tiền căn bị tân sinh hoặc ung thư tế bào gai ở âm hộ, âm đạo (nhiễm HPV cũng là nguyên nhân của hầu hết những trường hợp này)
  • Những người bị ưc chế miễn dịch (ví dụ: nhiễm HIV)
  • Ung thư cổ tử cung ít gặp hơn ở bạn tình của những người đàn ông bị cắt bao quy đầu 
  • Tuổi sinh con đầu tiên sớm (dưới 20 tuổi) và sinh nhiều con (3 hoặc nhiều hơn các trường hợp sinh đủ tháng) cũng làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung; đây cũng có thể là do phơi nhiễm với HPV qua quan hệ tình dục .
  • Tình trạng kinh tế xã hội thấp có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. 
  • Sử dụng ngừa thai đường uống đã được báo cáo là có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.
  • Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.

Là loại ung thư có thời gian diễn tiến chậm nhất và rõ ràng Nhất 

  • Ung thư cổ tử cung có diễn tiến rất chậm chạp. Sau khi bị nhiễm virus HPV, các tế bào biểu mô của cổ tử cung dần trở nên bất thường gọi hiện tượng nghịch sản. Nghịch sản sẽ trải qua các giai đoạn từ  nghịch sản nhẹ – nghịch sản trung bình- nghịch sản nặng. Các tế bào nghịch sản này chưa phải là tế bào ung thư nhưng có tiềm năng trở thành tế bào ung thư.
  • Sau một thời gian dài, các tế bào nghịch sản này nếu gặp điều kiện thích hợp và không bị cơ thể loại trừ sẽ dần dần trở thành tế bào ung thư. Các dạng ung thư cổ tử cung thường diễn tiến từ một tổn thương tại chỗ- tổn thương vi xâm lấn- tổn thương xâm lấn sớm( giai đoạn IB-IIA)- tổn thương xâm lấn sâu (IIB-IV). Nếu can thiệp trước giai đoạn IB1 thì có thể chữa khỏi hoàn toàn.

Triệu chứng của bệnh có thể được phát hiện sớm NHẤT

Dù chỉ có sang thương ở cổ tử cung kích thước nhỏ , khi quan hệ hay hoạt động mạnh cũng có thể ra dịch hay máu bất thường . Lúc đó nếu quan tâm đến cơ sở y tế gần nhất khám phụ khoa sẽ phát hiện bệnh sớm nhất, chính vì vậy phải lưu ý một số triệu chứng thường gặp trong giai đoạn sớm:

  • Xuất huyết âm đạo bất thường
  • Xuất huyết sau giao hợp
  • Tiết dịch âm đạo.

Cần phân biệt xuất huyết âm đạo bất thường để phân biệt với hiện tượng kinh nguyệt.

Xuất huyết âm đạo thường xuất hiện không đúng ngày có kinh, thường xảy ra sau giao hợp (do hành động giao hợp làm tổn thương khối bướu).

Đa phần ung thư cổ tử cung thường xảy ra ở phụ nữ mãn kinh. Các trường hợp xuất huyết âm đạo sau tuổi mãn kinh đều được xem là bất thường và phải nhanh chóng đi khám.

Ngoài ra còn có thể phát hiện các triệu chứng khác như:

Đau bụng, bí tiểu, đi ngoài khó, phân nhỏ dẹt: do bướu lớn chèn ép các cơ quan trong vùng chậu

Có thể tầm soát và phát hiện bệnh sớm Nhất

Phát hiện ung thư từ lúc chưa có triệu chứng được gọi là  tầm soát ung thư. Từ lâu, các nước phương Tây đã có chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm có tên:  Pap smear. Phương pháp này giúp phát hiện ung thư cổ tử cung từ giai đoạn rất sớm và làm giảm tỷ lệ tử vong đối với loại bệnh này.

Với phương pháp Pap smear, bác sĩ sẽ dùng một que có gắn bông gòn hoặc bàn chải ở đầu hoặc một que gỗ đưa vào cổ tử cung và xoay nhẹ để làm tróc các tế bào ở cổ tử cung.  Sau đó que sẽ được phết trên một tấm kính mỏng và được gởi đến phòng xét nghiệm. Tại đây, bác sĩ sẽ quan sát dưới kính hiển vi để tìm các tế bào bất thường.

Chất dịch lấy ra từ xét nghiệm Pap cũng có thể được xét nghiệm tìm virus HPV

Hình 02: Pap test là xét nghiệm giúp phát hiện ung thư cổ tử cung

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Khi bệnh nhân có những triệu chứng nghi ngờ ung thư cổ tử cung, bác sĩ sẽ tiến hành thăm khám qua các thủ thuật sau:

  • Khám vùng chậu

Bác sĩ sẽ dùng ngón tay có đeo găng, đưa sâu vào âm đạo cho đến khi chạm vào cổ tử cung. Động tác này giúp bác sĩ có thể sờ thấy và đánh giá độ lớn của bướu , ngoài ra còn đánh giá mức độ xâm lấn đến các cơ quan xung quanh như âm đạo, bàng quang, trực tràng.

  • Khám cổ tử cung bằng mỏ vịt

Phương pháp này có thể giúp các bác sĩ có thể  quan sát cổ tử cung bằng mắt thường một cách dễ dàng. Khi thấy khối bướu, bác sĩ sẽ sinh thiết để lấy một phần nhỏ bướu. Bệnh phẩm này sau đó sẽ được gửi đến phòng xét nghiệm để được bác sĩ chuyên khoa giải phẫu bệnh xem qua kính hiển vi để tìm các tế bào ung thư. 

Kết quả giải phẫu bệnh sẽ xác định chắc chắn người bệnh bị ung thư cổ tử cung,

  • Siêu âm bụng

Để đánh giá tình trạng có di căn đến các cơ quan trong ổ bụng khác: như gan, bàng quang… ?

  • Chụp CT scan vùng bụng-chậu

 CT giúp đánh giá chính xác kích thước bướu, tình trạng xâm lấn các cơ quan xung quanh và di căn đến các hạch trong ổ bụng…

  • Soi bàng quang

Bàng quang nằm cận kề cổ tử cung nên khi bướu lớn sẽ xâm lấn đến bàng quang. Soi bàng quang là phương pháp dùng một ống nội soi đưa qua lỗ tiểu rồi vào đến bàng quang.Qua đó có thể xác định tình trạng xâm lấn bàng quang.

  • Soi trực tràng

Trực tràng cũng là cơ quan nằm kế cận cổ tử cung nên khi bướu cổ tử cung lớn có thể bị xâm lấn. Soi trực tràng giúp quan sát tình trạng bướu xâm lấn trực tràng.

Điều trị ung thư cổ tử cung

Có 3 phương pháp điều trị chủ yếu. 

  • Phẫu thuật

Phẫu thuật ung thư cổ tử cung là một phẫu thuật lớn,  bao gồm cắt toàn bộ tử cung và vùng mô xung quanh tử cung (y khoa gọi là chu cung), sau đó nạo vét toàn bộ hạch chậu 2 bên.

Đối với giai đoạn sớm, chỉ cần cắt cổ tử cung là đủ.

Đối với giai đoạn trễ, khi bướu đã xâm lấn toàn bộ vùng chậu. Lúc này, phẫu thuật để cứu bệnh nhân là phẫu thuật đoạn chậu. Đây là một phẫu thuật rất lớn và rất khó. Bao gồm:  cắt toàn bộ tử cung, cắt bàng quang, cắt bỏ trực tràng.

  • Xạ trị:

Xạ trị bao gồm xạ trị ngoài và xạ trị trong

Xạ trị ngoài

Là phương pháp huỷ diệt các tế bào ung thư bằng cách chiếu tia phóng xạ từ ngoài  chiếu vào vùng chậu, bao trùm cả khối bướu lẫn vùng hạch chậu.

Xạ trị trong

Là phương pháp dùng chất phóng xạ được đặt vào trong các ống, đưa vào trong âm đạo. Các chất phóng xạ này sẽ phát ra các tia phóng xạ làm huỷ diệt các tế bào ung thư

  • Điều trị nội khoa (điều trị bằng thuốc)

Hoá trị

Là phương pháp dùng các thuốc gây độc tế bào đưa vào cơ thể thông qua đường mạch máu để tiêu diệt các tế bào ung thư

Thuốc chống sinh mạch

Đây là thuốc chống lại sự phát triển các mạch máu đến nuôi khối bướu. Khi không còn mạch máu nuôi, khối bướu sẽ kém phát triển hoặc nhỏ đi.

Tiên lượng

Tỷ lệ sống sót khi mắc bệnh GIẢM MỘT CÁCH ĐÁNG SỢ theo từng giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: 85 – 90%
  • Giai đoạn 2: 50 – 75%
  • Giai đoạn 3: 25 – 40%
  • Giai đoạn 4: Chỉ còn sống sau 5 năm
  • Nếu được phát hiện từ sớm, tỷ lệ chữa khỏi bệnh ở giai đoạn tiền ung thư là 100%, có thể bảo tồn được chức năng nội tiết và sinh sản. Bệnh càng phát hiện trễ thì việc điều trị càng phức tạp, tốn kém và khả năng khỏi bệnh thấp. 

Hướng dẫn tầm soát ung thư cổ tử cung

Các chuyên gia khuyến cáo

  • Phụ nữ trong độ tuổi từ 21 đến 29, đã có quan hệ tình dục, nên làm xét nghiệm Pap mỗi 3 năm một lần. 
  • Phụ nữ  từ 30 đến 65 tuổi, đã có quan hệ tình dục, cần phải làm cả xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV  mỗi 5 năm một lần, hoặc chỉ làm Pap mỗi 3 năm. 
  • Phụ nữ trên 65 tuổi đã được xét nghiệm tầm soát thường xuyên với kết quả bình thường thì không cần làm thêm xét nghiệm này.

Phòng ngừa Ung thư cổ tử cung

  • Tiêm vaccines phòng chống virus HPV : đây là biện pháp hiệu quả để giảm nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư cổ tử cung. Các chuyên gia khuyến cáo những phụ nữ dưới 25 tuổi và chưa quan hệ tình dục  nên được tiêm phòng vaccines này.
  •  Không quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên vì giai đoạn này các cơ quan sinh dục đang phát triển và rất nhạy cảm, và dễ bị nhiễm virus HPV
  • Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để giảm nguy cơ lây nhiễm virus HPV từ bạn tình..
  • Phụ nữ nên vệ sinh vùng kín sạch sẽ sau khi quan hệ tình dục. 
  • Cần đến gặp bác sĩ ngay nếu có những triệu chứng bất thường

Ung thư cổ tử cung là một căn bệnh nguy hiểm.  Nguyên nhân gây bệnh đã được xác định là virus HPV. Tuy nhiên, bệnh có thể phòng ngừa và điều trị khỏi nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm.

Do đó, các bạn nữ hãy thường xuyên theo dõi các triệu chứng bất thường và phòng ngừa bệnh qua các hướng dẫn trên để có thể tránh khỏi những hậu quả nặng nề do căn bệnh mang lại nhé