Câu chuyện về xe điện Hà Nội bắt đầu từ năm 1896. Để kết nối trung tâm Hà Nội với các vùng ngoại ô bằng tàu điện, một đơn xin cấp quyền cùng với dự thảo sơ bộ của ông Courret và Krug được gửi đến Phòng Thương mại và Đô thị Hà Nội, Phòng đã mở cuộc điều tra khảo sát về tiện ích công cộng từ ngày 5 tháng 2 đến ngày 5 tháng 3 năm 1896.
Sau khi hoàn tất các thủ tục tiếp theo, ngày 4 tháng 5 năm 1899, một nghị định được ban hành tuyên bố thành lập dự án xe điện tiện ích công cộng và phê chuẩn quy ước với các thông số kỹ thuật. nghị định này cấp quyền cho ông Courret, anh em nhà Krug và Durand với ba tuyến đường xe điện trong khoảng thời gian 60 năm như sau:
Tuyến số một: Từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (quảng trường Négrier) là đầu nối các phố Lê Thái Tổ, Hàng Đào, Hàng Gai, Đinh Tiên Hoàng, Cầu Gỗ) đến làng Thụy Khuê. Tuyến này có tổng chiều dài 3,530 km chạy dọc theo hồ Hoàn Kiếm qua đường Đinh Tiên Hoàng sau đó đi theo phố Hàng Bài và phố Huế dẫn đến Chợ Bạch Mai.
Tuyến số hai: Từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đến làng Giấy (Cầu Giấy), có chiều dài 5,4 km.
Tuyến số ba: Từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đến làng Tân Ấp (Yên Phụ) có chiều dài là 4,140 km.
Tuyến số 2 được khai thác vào ngày 10 tháng 11 năm 1901; Tuyến số 1 vào ngày 24 cùng tháng (trừ 800 mét cuối); Tuyến số 3 sẽ được liên tục xây dựng trên toàn bộ chiều dài của tuyến. Đường ray xe điện có chiều rộng là 1m.
Nhà máy điện cấp điện cho hệ thống tàu điện bao gồm:
– Bốn nồi hơi hình ống bán kính diện tích bề mặt 140m, áp lực ở mức 13kg;
– 2 động cơ hơi nước hai xi lanh thẳng đứng có với tốc độ quay 275 vòng/phút và cung cấp 225 mã lực;
– 3 động cơ 8 cực với công suất 150 kw, tốc độ 425 vòng quay mỗi phút, điện áp 530 volt không tải; những động cơ này là hypercompounded 12-13 phần trăm để cung cấp cho đầy tải điện áp 600 volts;
– 3 hệ thống phân phối điện áp.
Các công việc này gần như đã được hoàn tất, chỉ còn máy thứ ba và máy phát điện của nó chưa được lắp đặt.
Đường dây trên không bao gồm hai dây đồng có đường kính 9 mm được treo bằng các cột kim loại cách nhau 30 đến 40 mét; Tại đường giao nhau của đường dây điện chiếu sáng và đường dây điện thoại, thiết lập lưới kim loại bảo vệ phía trên tuyến đường dây xe điện
Mức giá tối đa được quy định là 5 xu cho vé hạng nhất và 3 xu cho vé hạng nhì.
Tàu điện Hà Nội thời Pháp thuộc được xây dựng và vận hành khai thác từ 1900 đến 1955 bởi những công ty sau:
1900-1905: Công ty Đường sắt điện Hà Nội và tiện ích mở rộng (Compagnie des Tramways électriques d’Hanoï et Extensions)
1905 – 1929: Công ty xe điện Hà Nội (Société des Tramways de Hanoï)
1929 – 1951: Công ty xe điện Bắc Kỳ (Société des Tramways du Tonkin)
1952 – 1954: Công ty vận tải công cộng khu vực Hà Nội (Société des Transports en Commun de la Région de Hanoi).

1899-1905: Công ty Đường sắt điện Hà Nội và Tiện ích mở rộng
Theoghi chép của biên niên sử thuộc địa Pháp và tài liệu của các công ty kinh doanh trên các thuộc địa của Pháp, Công ty Đường sắt điện Hà Nội và Tiện ích mở rộng (Compagnie des Tramways électriques d’Hanoï et Extensions) được thành lập vào ngày 28 tháng 10 năm 1899, với số vốn là 2.750.000 franc dưới sự nhượng quyền kinh doanh xe điện của ông Courret, anh em nhà Krug và Durand vào ngày 13 tháng 4 năm 1900 bằng một nghị định. Công ty xe điện này đã nhận được sự chuyển nhượng của một mạng lưới xe điện dài 12 km tại Hà Nội. Công ty Đường sắt điện Hà Nội và Tiện ích mở rộng là công ty đầu tiên khai thác và vận hành xe điện tại Hà Nội. Công ty chấm dứt hoạt động vào năm 1905.

1901 – 1929: Công ty xe điện Hà Nội
Ngày 13 tháng 1 năm 1905, Công ty xe điện Hà Nội (Société des Tramways de Hanoï) được thành lập dựa trên việc phê duyệt việc mua lại để sáp nhập của Công ty địa ốc Đông Dương (Société foncière de l’Indochine) với Công ty Đường sắt điện Hà Nội và Tiện ích mở rộng. Vốn cổ phần tăng từ 1.500.000 franc lên 2.500.000 franc.
Công ty Công cộng Pháp (Société anonyme Française), được thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1901 trong khoảng thời gian 99 năm với mục đích chính là việc mua lại và khai thác đất và các tòa nhà ở Hà Nội trong thời hạn là 99 năm. Trụ sở chính ở Paris, 15, rue Drouot, dưới cái tên Công ty địa ốc Đông Dương (Société foncière de l’Indochine). Công ty Công cộng Pháp (Société anonyme Française) chấm dứt hoạt động kinh doanh xe điện vào năm 1929.

1929-1951: Công ty xe điện Bắc Kỳ
Ngày 9 tháng 3 năm 1929, một cuộc họp đặc biệt quyết định đổi tên công ty Công ty địa ốc Đông Dương (Société foncière de l’Indochine) thành Công ty xe điện Bắc Kỳ (Société des Tramways du Tonkin) để tách biệt kinh tế và tách biệt với chính công ty địa ốc Đông Dương.

1952 – 1955: Công ty vận tải công cộng khu vực Hà Nội
Năm 1952, Công ty xe điện Bắc Kỳ được chuyển đổi thành Công ty vận tải công cộng khu vực Hà Nội (Société des Transports en Commun de la Région de Hanoi). Công ty ngừng hoạt động vào ngày 31/05/1955 và chuyển giao toàn bộ tài sản cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó đã tiếp quản Hà Nội.

Các tòa nhà của nhà máy được xây dựng và hoàn thành trong năm 1900. Điện để chạy tàu do 3 máy phát hơi nước nhãn hiệu Alioth Buise cung cấp, mạng điện được cấp nguồn bằng dòng DC ở mức 500 volt. Tàu chạy bằng điện 1 chiều và sử dụng động cơ kéo.
Tàu điện thời kỳ này chỉ có 1 đến 2 toa, toa đầu đồng thời là đầu kéo, chia làm 2 khoang. Một khoang nhỏ ở đầu, hai bên lối đi, mỗi bên có 2 cái ghế có đệm quay mặt vào nhau như toa xe hoả, ngồi được 8 người. Đây là chỗ ngồi hạng sang, còn lại phần lớn toa có hai hàng ghế gỗ chạy dọc lối đi. Đây là hạng bình thường. Hàng hoá chất ở dưới ghế và treo, móc ở bên ngoài toa cuối.
Ngày 13 tháng 9 năm 1900, tàu chạy thử tuyến đường đầu tiên Bờ Hồ – Thuỵ Khuê
Ngày 28 tháng 11 năm 1901, theo đề nghị của Giám đốc Công trình công cộng Bắc Kỳ và sự đồng ý của thanh tra viên công chức, thị trưởng thành phố Hà Nội đã thiết lập quy định an toàn giao thông đầu tiên cho hoạt động của xe điện trên đường phố Hà Nội. Quy định này chỉ có 6 điều.
Ngày 10 tháng 11 năm 1901 tuyến đường Bờ Hồ – Thái Hà ấp được khánh thành. Lúc đó đường tàu chạy dọc Hàng Bông sang Cửa Nam, theo đường Sinh Từ (nay là Nguyễn Khuyến) rẽ sang trước mặt Văn Miếu rồi ra đường Hàng Bột (nay là Tôn Đức Thắng). 2 năm sau, người ta bỏ đoạn Cửa Nam – Sinh Từ – Văn Miếu mà cho tàu chạy theo phố Hàng Đẫy (nay là Nguyễn Thái Học) tới lưng Văn Miếu thì rẽ sang Hàng Bột (phố Tôn Đức Thắng ngày nay).
Trong năm 1902, số lượng hành khách vận chuyển trong tháng tư là 109.165 lượt, tháng năm là 134.941 lượt, tăng 35.776 lượt khách so với tháng tư. Tổng số lượt hành khách tính đến cuối tháng 5 là 726.801 lượt.
Mức giá tối đa đã được quy định là 5 cents cho vé hạng nhất và 3 cents cho vé hạng nhì. Tuy nhiên không có bằng chứng cụ thể cho giá vé của thời kỳ đầu, nhưng phải đến năm 1930 giá vé xe điện hạng nhất mới tăng từ 4 cents lên 5 cents và giá vé xe điện hạng hai từ 3 xu lên 4 xu; Vé tháng hạng nhất tăng từ 2 piastres 50 lên 3 piastres 50 và hạng hai tăng từ 2 piastres lên 2,75 piastres. Giá vé bán theo từng chặng hoặc cả tuyến. (1 piastre bằng 100 cents, piaste được gọi là đồng và cent được gọi là xu)
Năm 1904, Công ty địa ốc Đông Dương (Société foncière de l’Indochine) đã đạt được một thỏa thuận cho phép công ty mở rộng tuyến của mình đến Cầu Đơ (Hà Đông) và ngày 10 tháng 7 năm 1904 Giám đốc Công trình đã viết cho công ty thông báo rằng việc xây dựng hai cây cầu chính, trên sông Tô Lịch và Sông Nhuệ là trách nhiệm của chính quyền. Tuy nhiên, việc này đã bị kéo dài đến năm 1915.
Năm 1906, tuyến đường xe điện Bờ Hồ – Chợ Mơ được xây dựng và khánh thành ngày 18/12/1906. Ít năm sau, kéo dài đường Bờ Hồ – Thuỵ Khuê lên tận Chợ Bưởi.
Năm 1915 đường Bờ Hồ – Thái Hà ấp được kéo vào thị xã Hà Đông nhưng phải dừng ở bên này Cầu Đơ (Bến xe Hà Đông) vì cây cầu này yếu, không chịu được tải trọng của tàu. Mãi đến ngày 13 tháng 3 năm 1939 mới khánh thành tuyến xe điện kéo dài đến Hà Đông. Lễ khánh thành tổ chức tại Hà Đông lúc 9 giờ 30 sáng. Đến năm 1915, Hà Nội có 22 đầu kéo, mỗi đầu có công suất 25 mã lực

Năm 1927, một dự án mở rộng các tuyến đường xe điện được đề xuất như sau:
Phần mở rộng thứ nhất bao gồm:
– Kéo dài tuyến xe điện từ Bạch Mai đến ga Văn Điển với khoảng cách 5.500 mét theo đường thẳng để kết nối tuyến xe lửa từ Hà Nội đến Nam Định.
– Kéo dài tuyến từ Cầu Giấy đến đình làng Chèm (phủ Hoài Đức) qua khu vực Cổ Nhuế dài khoảng 6.500 mét;
– Kéo dài tuyến từ Hà Nội đến (nhà thi đấu) Hà Đông thêm 1.500 mét.
Phần mở rộng thứ hai bao gồm:
– Một tuyến về bốt Hàng Đậu qua phố Hàng Than, chạy dọc theo đê sông Hồng đến đình làng Chèm (phủ Hoài Đức), 10 km;
– Một đường vành đai từ Thanh Trì đến Phú Xá qua Bạch Mai, qua sân bay (Bạch Mai), theo con đường đông đúc chạy dọc theo sông Tô Lịch bằng cách trích tuyến xe điện từ Hà Đông; hướng qua Cầu Giấy và cây cầu của làng giấy, 15 km;
– Đường thẳng lấy tại giao điểm của đường Hàng Khay (Paul Bert) và phố Bà Triệu (Đại lộ Gia Long) kéo dài theo đường Bà Triệu đến Bạch Mai rồi đi qua khu Trại Hàng Không và từ đó đến Định Công Thượng, băng qua Sông Tô-Lịch, dọc theo phía sau những ngôi làng giàu có đến bờ Sông Nhuệ Giang đến làng Khúc Thủy (Cự Khê, Hà Đông), 13km.;
– Một đường từ Hà Đông đến Văn Điển băng qua Thanh Liệt, 7,5km.
Sau đó, khi nào cầu đường sắt mới sẽ được xây dựng và cầu Doumer (cầu Long Biên) sẽ được sử dụng cho nhiều loại xe cộ và xe điện khác nhau, một đường từ Đại lộ Henri-d’Orléans (phố Phùng Hưng), lấy cây cầu Long Biên và phân nhánh ra khỏi cây cầu này đến:
a) Trên ga mới Gia Lâm;
b) Trên Lâm-Gia, Bát Tràng và huyện Văn Giang bằng đê sông Hồng 18,5km.
Phần mở rộng thứ ba sẽ bao gồm:
– Phần mở rộng đến Sơn Tây từ Hoài Đức Phủ, 32km.
– Một đường dài khoảng 50 km kéo dài về phía hạ lưu (Sông Hồng).
Đến cuối năm 1928, dự án này bị bỏ rơi

Ngày 25 tháng 11 năm 1929 Công ty Xe điện Bắc Kỳ (Société des tramway du Tonkin) đã đưa ra đề xuất cho xây dựng tuyến đô thị mới từ Yên Phụ đến Kim Liên.
Ngày 20 tháng 10 năm 1930 Hội đồng thành phố Hà Nội chấp thuận dự án đường tàu điện mới khu vực đường Mandarine (phố Hàng Lọng – đầu đường Lê Duẩn ngày nay) và đê Yên Phụ, gần khu vườn Bách Thảo để phục vụ các trung tâm đông dân cư.
Như vậy tuyến Yên Phụ – ngã Tư Đồng Lầm (nay là ngã tư Đại Cồ Việt – Lê Duẩn) được hình thành từ năm 1930 để rồi mãi tới khoảng năm 1943 mới nối đến trước cửa nhà thương Vọng (nay là bệnh viện Bạch Mai). Đây được xem là tuyến xe điện được xây dựng và hoàn thiện cuối cùng của Hà Nội.
Vé tàu điện thời kỳ này được in chủ yếu bằng tiếng Pháp, riêng phần ghi chú in bằng tiếng Việt nhưng các thanh dấu không được đầy đủ, còn nhiều lỗi chính tả và lỗi sắp chữ.
Theo Biên niên sử thuộc địa, ngày 25 tháng 10 năm 1930, Hội đồng thành phố tổ chức cuộc họp tại tòa thị chính dưới sự chủ trì của người được ủy thác Tholance. Hội đồng không phản đối yêu cầu tăng giá vé xe điện hạng nhất từ 4 cents lên 5 cents và giá vé xe điện hạng hai từ 3 cents lên 4 cents. Thẻ đăng ký hàng tháng (vé tháng) cho tất cả các hạng sẽ tăng, hạng nhất từ 2 piastres 50 lên 3 piastres 50; Hạng hai tăng từ 2 piastres lên 2,75 piastres. Thuế hành lý giữ nguyên.
Số lượng hành khách được vận chuyển tăng từ 1.924.743 lượt năm 1936 lên 2.977.802 lượt vào năm 1937 và lên đến 6.141.901 lượt người trong năm 1938
Sau khi tiếp quản thủ đô, đại diện của chính quyền thành phố Hà Nội và Công ty vận tải công cộng Pháp khu vực Hà Nội (Société française de transports en commun de la Région d’Hanoï) ký kết hợp đồng thuê mua vào ngày 1 tháng 6 năm 1955 tại trụ sở chính quyền thành phố. Theo hợp đồng này, công ty Pháp ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 5 và toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị và vật tư, vật tư, hàng tồn kho sẽ do thành phố Hà Nội đảm nhận hoạt động từ ngày 01/06/1955.
Công ty Pháp sẽ được bồi thường bằng khoản thanh toán 300 triệu phơ-răng được trả trong 25 năm. Việc thanh toán sẽ được thực hiện nửa năm một lần, mỗi lần là 6 triệu phơ-răng. Thanh toán lần đầu sẽ được thực hiện vào ngày 1 tháng 1. Chỉ có hai kỹ thuật viên người Pháp chỉ đạo hoạt động của công ty vẫn hoạt động cho đến ngày 15 tháng 6, sau đó thay thế bằng kỹ thuật viên Việt Nam.
Sau khi tiếp quản Thủ đô, vào cuối năm 1954, Sở Xe điện Hà Nội được thành lập để chuẩn bị nhận bàn giao hệ thống tàu điện từ chính quyềnthành phố Hà Nội. Kể từ khi được bàn giao vào năm 1955, Hà Nội có 5 tuyến tàu điện và Bờ Hồ là trạm trung tâm chính tỏa đi 6 hướng là Hà Đông, Cầu Giấy, Mơ, Vọng, Bưởi và Yên Phụ trong đó có 4 tuyến chạy qua Bờ Hồ gồm:
– Tuyến Bờ Hồ – Chợ Bưởi
– Tuyến Bờ Hồ – Chợ Mơ
– Tuyến Bờ Hồ – Cầu Giấy
– Tuyến Bờ Hồ – Hà Đông
– Tuyến Yên Phụ – Vọng (không chạy qua Bờ Hồ).
Chi tiết các ga tuyến tàu điện giai đoạn 1955 – 1991 như sau:
1. Tuyến Bưởi đến Bờ Hồ: Bưởi – Thụy Khê – Quán Thánh – Hàng Giấy – Đồng Xuân – Hàng Ngang – Hàng Đào – Bờ Hồ.
2. Tuyến Bờ Hồ đến Chợ Mơ: Bờ Hồ – Đinh Tiên Hoàng – Hàng Bài – Chợ Hôm – Phố Huế – Bạch Mai – Chợ Mơ.
3. Tuyến Bờ Hồ đến Cầu Giấy: Bờ Hồ – Hàng Gai – Hàng Bông – Nguyễn Thái Học – Văn Miếu – Nguyễn Thái Học – Kim Mã – Voi Phục – Cầu Giấy.
4. Tuyến Bờ Hồ đến Hà Đông: Bờ Hồ – Hàng Gai – Hàng Bông – Nguyễn Thái Học -Văn Miếu – Hàng Bột (Tôn Đức Thắng) – Ô Chợ Dừa – Thái Hà (Tây Sơn) – Cầu Mới – Phùng Khoang – Cầu Đơ – Hà Đông
5. Tuyến Yên Phụ đến Vọng: Yên Phụ – Hàng Than – Hàng Cót – Nhà Hoả – Phùng Hưng – Hàng Bông – Cửa Nam – Hàm Long (Phố Lê Duẩn) – Ga Nam Bộ (Ga Hà Nội) – Vọng
Từ Chợ Bưởi đến Chợ Mơ thực ra vẫn chỉ là một chuyến tàu. Từ Bưởi, tàu chạy qua đường Thuỵ Khê, qua Quán Thánh rồi vào Hàng Giấy, qua Chợ Đồng Xuân, Hàng Ngang hàng Đào đến Bờ Hồ, rồi sau đó theo đường Đinh Tiên Hoàng, qua Hàng Bài, phố Huế, phố Bạch Mai, đến điểm cuối cùng là Chợ Mơ.
Tàu Cầu Giấy và Bưởi – Chợ Mơ thường có 2 toa. Tàu Hà Đông đưòng xa hơn, đông khách nên có 3 toa.
Tuyến Yên Phụ – Bạch Mai chỉ có 1 toa. Tàu xuất phát từ Yên Phụ, đi theo đường đê, rẽ xuống dốc Hàng Than qua Hàng Cót, đến phố Nhà Hoả thì đi vào đường Phùng Hưng, rẽ vào Hàng Bông, qua Cửa Nam rồi chạy dọc phố Hàng Lọng (bây giờ là phố Lê Duẩn), thẳng xuống Bạch Mai. Tàu này thường vắng vì lúc ấy, đến đầu phố Khâm Thiên đã là ngoại ô rồi.
Hai tuyến Cầu Giấy và Hà Đông có một đoạn dài đi chung đường: từ Bờ Hồ, qua Hàng Gai, Hàng Bông rẽ vào Nguyễn Thái Học, đến hết Văn Miếu thì tàu Hà Đông rẽ vào phố Hàng Bột (bây giờ là phố Tôn Đức Thắng), còn tàu Cầu Giấy đi thẳng, theo đường Nguyễn Thái Học, qua Kim Mã về Cầu Giấy.
Mỗi lần đến đây, một người bán vé phải xuống tàu dùng một thanh sắt “bẻ ghi” để tàu chuyển hướng về Hà Đông, nếu không có người “bẻ ghi”, tàu sẽ chạy thẳng về Cầu Giấy. Chỗ bẻ ghi chính là nơi người ta cứ hay hương khói ở góc Nguyễn Thái Học và Hàng Bột bây giờ.
Cuối mỗi ngày, các tàu đều về Sở Xe điện ở phố Thuỵ Khê. Trừ đường Hà Đông xa nhất, ở Cầu Mới, có một đoạn đường xe điện có mái ngói (phía trước nhà máy công cụ số 1). Đó là nơi chuyến tàu đầu tiên của mỗi ngày trên đường Bờ Hồ – Hà Đông đỗ qua đêm dể đến sáng, vào Hà Đông cho gần. Buổi sáng, từ rất sớm, chuyến đầu tiên đã phải từ Thuỵ Khê chạy về các hướng để khoảng năm giờ rưỡi là xuất phát về Bờ Hồ.
Trong thời kỳ này, các ghi chép về tàu điện của Hà Nội không có nhiều, thông tin có được phần lớn là được kể lại qua những ký ức của những người đã đi qua thời kỳ này. Theo một số tài liệu trên internet, hệ thống tàu điện Hà Nội thời kỳ này được quản lý và vận hành bởi những đơn vị sau:
1954 – 1955: Sở Xe điện Bắc Việt
1955 – 1959: Sở Xe điện Hà Nội
1959 – 1969: Quốc doanh Xe Điện Hà Nội
1969 – 1991: Công ty Xe điện Hà Nội

1954 – 1955: Sở Xe điện Bắc Việt
Sau giải phóng Thủ đô, Sở Xe điện Bắc Việt được thành lập và được giao để quản lý và khai thác trên nền tảng của hệ thống tàu điện của Pháp. Mọi hoạt động khai thác trong giai đoạn này vẫn được duy trì theo cung cách cũ của Pháp nhưng có thay đổi chút ít cho phù hợp với tình hình hiện tại. Chữ ghi trên vé tàu đã Việt hóa gần như hoàn toàn, đầy đủ và rõ ràng. Giá vé vẫn chưa được ghi trên tấm vé mà vẫn phải tra trên bảng kê giá. Tên gọi Sở Xe điện Bắc Việt mang ý nghĩa do Nhà nước quản lý chứ không như các tên gọi cũ thời Pháp thuộc là Công ty do tư nhân quản lý.
1955 – 1959: Sở Xe điện thành phố Hà Nội
Từ cuối năm 1955 đến năm 1959, Sở xe điện Bắc Việt được đổi tên thành Sở Xe điện Hà Nội.
Từ 1955 đến hết thời kỳ tàu điện (1991), các hạng ghế cũ được phá bỏ thành đồng hạng, cả toa tàu thông nhau. Không sử dụng hệ thống tiền thuộc địa nữa mà thay vào đó là hệ thống tiền tệ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bộ tiền thời kỳ này được in trên giấy hoàn toàn và được phát hành vào năm 1951 với mệnh giá nhỏ nhất là 10 đồng.
Giá vé được in sẵn trên tấm vé theo từng chặng hoặc cả tuyến. Tuyến Bạch Mai – Bưởi có giá là 100 đồng, từ Bưởi đi chợ Hôm có giá 60 đồng, từ Đồng Xuân đi chợ Hôm giá vé là 40 đồng, Hà Đông đi Ô Chợ Dừa có giá là 60 đồng, đi cả tuyến là 100 đồng. Sau đổi tiền 1959, vé của Sở Xe điện thành phố Hà Nội có mệnh giá trên vé là xu cho đến khi đổi tên thành Quốc doanh Xe điện Hà Nội.
1959 – 1969: Quốc doanh Xe điện Hà Nội
Từ năm 1959 đến 1969, xí nghiệp xe điện được đổi tên thành Quốc doanh Xe điện Hà Nội. Giá vé lúc này được điều chỉnh theo hệ thống tiền tệ 1958 (trong đợt đổi tiền 1959) gồm cả tiền giấy và tiền xu với mệnh giá nhỏ nhất là 1 xu. Về cơ bản, giá vé lúc này vẫn chia thành từng chặng hoặc cả tuyến, đi cả tuyến giá vé là 10 xu, tuyến Bờ Hồ – Cầu giấy giá 5 xu, tuyến Vọng – Yên Phụ giá vé 8 xu. Vé đi theo chặng là 5 xu
1969 – 1991: Công ty Xe điện Hà Nội
Từ năm 1969, Quốc doanh Xe điện Hà Nội được đổi tên thành Công ty Xe điện Hà Nội. Nhìn chung giá vé và các hoạt động vẫn giữ nguyên cho đến năm 1985 theo hệ thống tiền tệ phát hành năm1958.
Năm 1985 đổi tiền trên toàn quốc, đi theo nó là sự lạm phát. Thời kỳ này sử dụng bộ tiền in và phát hành năm 1985 với mệnh giá nhỏ nhất là 5 hào và không phát hành tiền xu. Hệ thống vé tàu điện vẫn sử dụng loại cũ với mệnh giá xu. Giá vé tàu cả tuyến bờ Hồ – Cầu Giấy đã tăng lên 20 xu nhưng Công ty Xe điện phải đóng dấu đè giá tiền lên ngay tấm vé thành 50 xu, những tấm vé cũ cũng được đóng dấu đè lên với mức giá tương ứng. Những năm từ 1987 đến năm 1990 các tuyến tàu điện giảm dần về số lượng và thời gian chạy tàu, năm 1991 được cho là chấm dứt hoàn toàn tàu điện tại Hà Nội.
Đến nay, các đầu máy toa xe của hệ thống tàu điện của Hà Nội đã không còn lại gì, số đầu máy toa xe này được cho là đã bị nấu thành gang, thép để tái sử dụng. Công ty xe điện Hà Nội vẫn tiếp tục hoạt động đến năm 2001 và được đổi tên lại thành Xí nghiệp xe điện Hà Nội từ năm 2001, trực thuộc Công ty Vận tải và dịch vụ công cộng Hà Nội. Tàu điện Hà Nội xưa giờ chỉ còn trong ký ức, trong hình ảnh xưa cũ, trong thơ ca và trong nỗi nhớ của một thời Hà Nội đã xa …

Nguồn sưu tầm